Điểm tin

Việt Nam - Thái Lan: Liên kết chuỗi cung ứng mở rộng dư địa hợp tác

20 tháng 07. 2026

Sáu tháng đầu năm 2026, thương mại Việt Nam - Thái Lan tiếp tục tăng trưởng tích cực, phản ánh xu hướng liên kết chuỗi cung ứng ngày càng sâu rộng giữa hai nền kinh tế. Động lực này mở thêm dư địa hợp tác, song cũng đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu thích ứng nhanh với những tiêu chuẩn thị trường.

Liên kết chuỗi cung ứng tạo động lực tăng trưởng

Theo Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc dưới tác động của biến động kinh tế và địa chính trị, hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan đang bước sang giai đoạn phát triển mới. Nếu trước đây quan hệ thương mại chủ yếu dựa trên trao đổi hàng hóa, thì nay hai nền kinh tế đang từng bước dịch chuyển sang mô hình liên kết sâu hơn về sản xuất, đầu tư và logistics. Đây được xem là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp hai nước nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường quốc tế, đồng thời củng cố vai trò của ASEAN trong mạng lưới chuỗi cung ứng khu vực.

Theo số liệu Cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam - Thái Lan đạt 13,35 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan đạt hơn 5,63 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan về Việt Nam đạt 7,71 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ; Việt Nam nhập siêu khoảng 2,1 tỷ USD từ Thái Lan.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu cho thấy, hàng hóa Việt Nam đang từng bước mở rộng hiện diện tại thị trường Thái Lan, đồng thời phản ánh hiệu quả của quá trình gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa chuỗi sản xuất của hai nền kinh tế.

Bức tranh thương mại song phương cũng cho thấy, tính bổ trợ rõ nét trong cơ cấu hàng hóa. Việt Nam tiếp tục khẳng định lợi thế ở các nhóm hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, với kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,62 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 703,3 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện đạt 545,5 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 361 triệu USD. Cùng với đó, nhiều mặt hàng nông sản, thủy sản và công nghiệp chế biến như dầu thô, thủy sản, cà phê, hàng dệt may và sắt thép tiếp tục duy trì tăng trưởng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan chủ yếu là các nhóm hàng phục vụ sản xuất, bao gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, với kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,26 tỷ USD; ô tô nguyên chiếc đạt 646,6 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 631,6 triệu USD; hàng điện gia dụng và linh kiện đạt 600 triệu USD; cùng nhiều mặt hàng nguyên liệu như: kim loại thường, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất và linh kiện ô tô.

Cơ cấu này cho thấy, hai nền kinh tế không chỉ bổ sung cho nhau về nguồn cung mà còn từng bước hình thành chuỗi giá trị chung, trong đó hàng hóa của mỗi nước vừa là đầu vào cho sản xuất, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng thương mại song phương.

Theo ông Lê Hữu Phúc, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái định hình, Việt Nam và Thái Lan đang thúc đẩy chiến lược “Ba kết nối”, bao gồm: kết nối chuỗi cung ứng, kết nối doanh nghiệp và địa phương hai nước, đồng thời kết nối các chiến lược tăng trưởng bền vững. Đây không chỉ là định hướng hợp tác trước mắt mà còn là bước đi mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hai nền kinh tế, tạo nền tảng hình thành các chuỗi cung ứng bền vững trong lĩnh vực điện tử, công nghiệp chế biến, năng lượng và logistics, mở ra dư địa phát triển mới cho thương mại Việt Nam - Thái Lan trong thời gian tới.

Chủ động thích ứng để mở rộng thị trường xuất khẩu 

Nếu liên kết chuỗi cung ứng đang tạo động lực mới cho thương mại Việt Nam - Thái Lan thì việc đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường sẽ quyết định khả năng duy trì và mở rộng đà tăng trưởng trong thời gian tới. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết khi xu hướng bảo hộ thương mại, tiêu chuẩn xanh và các quy định kỹ thuật ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa nhập khẩu vào Thái Lan.

Theo đánh giá của Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, nước này hiện áp dụng tổng cộng 7 vụ việc phòng vệ thương mại và các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan tiếp tục siết chặt các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời từng bước áp dụng thử nghiệm các tiêu chuẩn xanh và yêu cầu giảm phát thải carbon đối với hàng hóa nhập khẩu. Những thay đổi này không chỉ tạo áp lực tuân thủ mà còn buộc doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình sản xuất xanh, minh bạch và bền vững.

Ông Lê Hữu Phúc cho biết, việc cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) khởi xướng hai cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 liên quan đến Thái Lan đang tạo ra những tác động lan tỏa tới chính sách đầu tư, thương mại và chuỗi cung ứng trong khu vực. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro, chủ động cập nhật thông tin thị trường và kịp thời thích ứng với những biến động mới của thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, thách thức luôn song hành cùng cơ hội. Lợi thế về logistics, công nghiệp hỗ trợ và nông nghiệp công nghệ cao của Thái Lan kết hợp với năng lực sản xuất, xuất khẩu và thu hút đầu tư của Việt Nam đang mở ra khả năng hình thành các chuỗi cung ứng bền vững trong lĩnh vực điện tử, công nghiệp chế biến, năng lượng và logistics.

Có thể thấy, trong bối cảnh chuỗi cung ứng khu vực tiếp tục được tái định hình, lợi thế cạnh tranh sẽ không chỉ được đo bằng quy mô xuất khẩu mà còn ở khả năng tham gia sâu vào các mắt xích có giá trị gia tăng cao. Việc chủ động đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tăng cường năng lực quản trị và khai thác hiệu quả chiến lược “Ba kết nối” sẽ là chìa khóa để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường Thái Lan, nâng tầm quan hệ thương mại song phương và đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của chuỗi cung ứng ASEAN.

Nguồn: Tạp chí Kinh tế - Tài chính

Chia sẻ bài viết qua mạng xã hội: