Điểm tin

Xuất khẩu sang ASEAN: Gần về địa lý nhưng vẫn cần thận trọng

30 tháng 10. 2026

Thị trường ASEAN mở ra cơ hội cho hàng hóa Việt Nam, nhưng ưu đãi thuế quan không đồng nghĩa giao dịch an toàn. Khác biệt về tiêu chuẩn, thủ tục nhập khẩu, thanh toán và logistics có thể biến đơn hàng thành khoản thua lỗ lớn. Vì vậy, quản trị rủi ro phải bắt đầu trước khi chào hàng và ký kết hợp đồng.

Một lô hàng nhiều tầng rủi ro

Cơ hội mở rộng xuất khẩu sang thị trường ASEAN không chỉ đến từ khoảng cách địa lý gần, ưu đãi thuế quan nội khối mà còn từ nhu cầu đa dạng của các nền kinh tế thành viên. Tuy nhiên, phía sau lợi thế ấy là những khác biệt về pháp lý, tiêu chuẩn hàng hóa, phương thức phân phối và tập quán kinh doanh mà doanh nghiệp không thể giải quyết chỉ bằng giá bán cạnh tranh.

Theo PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương, trường Đại học Ngoại thương, phải nhìn nhận ASEAN như một mạng lưới sản xuất và thương mại gồm nhiều thị trường có tính liên kết, nhưng chưa đồng nhất về thể chế, hạ tầng và thủ tục. Doanh nghiệp muốn khai thác hiệu quả thị trường này cần chuyển từ tư duy tối ưu chi phí đơn thuần sang cân đối đồng thời chi phí và rủi ro.

Ngay trong nội khối, hàng hóa vẫn phải đáp ứng quy định của nước nhập khẩu, từ quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật đến thủ tục hải quan.

Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) tạo cơ sở hưởng ưu đãi thuế quan, nhưng mức thuế thấp không tự động được áp dụng nếu doanh nghiệp không đáp ứng quy tắc xuất xứ và chứng minh được nguồn gốc hàng hóa.

“Doanh nghiệp cần chủ động khai thác Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN (ATR) và Cổng thông tin thương mại Việt Nam (VNTR) để tra cứu biểu thuế, quy tắc xuất xứ, biện pháp phi thuế quan và thủ tục liên quan. Việc chuẩn bị chứng từ phải gắn với kiểm soát nguyên liệu, quy trình sản xuất và khả năng truy xuất trong toàn bộ chuỗi cung ứng”. PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương lưu ý.

Rủi ro cũng có thể phát sinh ngay từ khâu vận chuyển. Tuyến đường ngắn nhất chưa chắc là phương án tiết kiệm nhất nếu tính cả phí lưu bãi, thời gian chờ, nguy cơ trượt chuyến và chi phí phát sinh tại cảng trung chuyển. Bởi vậy, lựa chọn logistics cần dựa trên tổng chi phí, thời gian giao hàng và mức độ an toàn, thay vì chỉ so sánh giá cước.

Một tình huống được bà Nguyễn Thị Trang, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Nguyên Khôi chia sẻ, cho thấy hậu quả của việc thiếu chuẩn bị có thể rất lớn.

Như trường hợp một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu 3 container cà phê rang xay sang Indonesia theo hợp đồng CIF tại cảng Belawan, thanh toán bằng đồng rupiah và trả chậm 60 ngày. Khi hàng đến cảng, lô hàng bị tạm giữ do thiếu nhãn tiếng Indonesia và chưa có mã đăng ký của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Indonesia (BPOM).

Phía mua yêu cầu giảm giá 15% và chỉ thanh toán sau khi hàng được thông quan. Trong khi đó, chi phí lưu bãi của ba container lên tới 9 triệu đồng mỗi ngày. Nếu chờ 30 ngày để hoàn tất đăng ký và dán nhãn phụ, tổng chi phí theo phương án xử lý khoảng 330 triệu đồng gồm: 270 triệu đồng lưu bãi và 60 triệu đồng đăng ký, dán nhãn.

Tình huống này cho thấy sai sót về tuân thủ có thể nhanh chóng chuyển thành sức ép tài chính và đàm phán. Hợp đồng đã ký không đồng nghĩa doanh nghiệp đã kiểm soát được giao dịch; nếu chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên, doanh nghiệp dễ bị đặt vào thế phải chấp nhận những yêu cầu bất lợi để giải phóng hàng.

Phòng ngừa từ đối tác đến hợp đồng và dòng tiền

Tại Indonesia, ông Phạm Thế Cường, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia lưu ý, doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến các quy định về tiêu chuẩn quốc gia SNI, tỷ lệ nội địa hóa TKDN, đăng ký lưu hành sản phẩm và chứng nhận Halal đối với những nhóm hàng thuộc diện áp dụng. Đây không phải những thủ tục có thể để đến khi hàng chuẩn bị cập cảng mới xử lý.

Doanh nghiệp cũng cần phân biệt rõ vai trò pháp lý của nhà nhập khẩu và nhà phân phối, đồng thời thận trọng khi ký hợp đồng phân phối độc quyền. Đăng ký nhãn hiệu sớm, xác định đúng đối tác và rà soát phương thức thanh toán là những bước quan trọng để tránh mất quyền kiểm soát thương hiệu, hàng hóa hoặc dòng tiền.

Với thị trường Myanmar, ông Ngô Xuân Tỵ, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Myanmar cho biết, các nhóm rủi ro cần lưu ý gồm: lựa chọn đối tác địa phương, quy định nhập khẩu, thanh toán và quản lý ngoại tệ, thuế, hải quan, vận chuyển và văn hóa kinh doanh. Những vấn đề này càng cần được đánh giá thận trọng khi doanh nghiệp tiếp cận một thị trường có nhiều biến động và đang tìm kiếm cơ hội phục hồi thương mại.

Điểm chung từ các khuyến nghị là không nên đánh đồng nhu cầu thị trường với khả năng thanh toán của đối tác, cũng không nên xem sự thuận lợi ban đầu trong giao tiếp là bảo đảm cho một giao dịch thành công. Thẩm tra tư cách pháp nhân, địa chỉ hoạt động, năng lực thực hiện hợp đồng và lịch sử giao dịch cần được tiến hành trước khi chuyển tiền đặt cọc hoặc giao hàng.

Bên cạnh đó, quản trị rủi ro còn phải mở rộng sang logistics. PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương khuyến nghị, doanh nghiệp cần xây dựng phương án vận chuyển thay thế, kiểm tra lịch tàu, thời gian chốt chứng từ, tình trạng cảng và khả năng chuyển tải. Với vận tải đường bộ, cần xác minh tình trạng cửa khẩu, giờ làm việc của hai bên và điều kiện quá cảnh. Dữ liệu các chuyến hàng trước cũng cần được lưu trữ, phân tích để cải thiện khả năng dự báo.

Về phía cơ quan hỗ trợ, việc cung cấp thông tin thị trường, cập nhật quy định nước sở tại và kết nối đối tác cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài là đầu mối quan trọng để doanh nghiệp tìm hiểu thị trường, nhận diện rủi ro và tiếp cận các cơ hội xúc tiến thương mại phù hợp.

Đối với doanh nghiệp, yêu cầu trước mắt là hình thành quy trình kiểm soát xuyên suốt: thẩm định đối tác, kiểm tra điều kiện pháp lý của sản phẩm, rà soát hợp đồng, đánh giá thanh toán và chuẩn bị phương án logistics dự phòng. Mỗi thị trường, mỗi nhóm hàng và mỗi đối tác cần có phương án riêng, thay vì áp dụng một công thức chung cho toàn ASEAN.

Vì vậy, để khai thác hiệu quả thị trường ASEAN, doanh nghiệp không chỉ cần tận dụng lợi thế địa lý và ưu đãi thuế quan mà còn phải chủ động kiểm soát rủi ro trong từng khâu giao dịch. Từ thẩm định đối tác, tuân thủ quy định nước sở tại đến rà soát hợp đồng và xây dựng phương án logistics dự phòng, mỗi bước đều cần được tính toán chặt chẽ.

Chủ động phòng ngừa ngay từ đầu không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thất mà còn bảo vệ thành quả kinh doanh khi phát sinh biến động hoặc tranh chấp. Bởi một đơn hàng chỉ thực sự thành công khi hàng hóa được giao đúng yêu cầu, tiền thanh toán đầy đủ và lợi nhuận không bị bào mòn bởi những rủi ro có thể phòng ngừa từ trước.

Nguồn: Trọng Nghĩa, Tạp chí Kinh tế - Tài chính Online

Chia sẻ bài viết qua mạng xã hội: